Hãy tưởng tượng một tay golf chuyên nghiệp nản lòng. Quẳng toàn bộ túi gậy của mình đi vì một cú đánh tồi. Tương tự như vậy. Một nhà giao dịch không nên đổ lỗi các công cụ phân tích kỹ thuật dựa vào một giao dịch không thành công.



Trong thực tế, theo nhiều cách. Các công cụ phân tích kỹ thuật chứng khoán có thể được so sánh như các công cụ của một người chơi gôn hoặc thợ thủ công bậc thầy. Mỗi công cụ có một mục đích cụ thể mà nó được thiết kế ra. Cùng với các khả năng và giới hạn cụ thể. Những người thợ bậc thầy đã học được qua kinh nghiệm. Cách sử dụng công cụ nào trong một tình huống nhất định.


Tất nhiên. Một số công cụ kỹ thuật có thể được áp dụng cho nhiều tình huống. Giống như một cây cờ lê có thể điều chỉnh để có thể vặn được nhiều con ốc vít khác nhau. Thật không may, một số kỹ thuật viên sẽ sử dụng các công cụ hoặc chỉ số yêu thích của họ trong gần như tất cả các tình huống. Kinh nghiệm là, họ thường là gặp “chấn thương”, trong giao dịch được gọi là “thua lỗ”. Ví dụ, nếu họ sử dụng một công cụ duy nhất như stochastic trong tất cả các tình huống thị trường thì không khác gì sử dụng cờ lê để nhổ đinh vậy.



Trong bài viết này, tôi sẽ giới thiệu các loại công cụ kỹ thuật chính và cung cấp một cái nhìn tổng quan ngắn về chức năng của chúng.



Chúng tôi có thể phân loại các công cụ kỹ thuật theo cách sử dụng chính của chúng:

Hành động giá:


Tiền đề cơ bản của phân tích kỹ thuật là: Tất cả những gì đã biết, nghi ngờ, hy vọng hoặc sợ hãi về một cổ phiếu hoặc chỉ số, hay hàng hóa nhất định được phản ánh trong giá khi mà người mua và người bán đồng ý thực hiện giao dịch.



Nói một cách đơn giản, khi một cổ phiếu hay hàng hóa giao dịch ở mức giá cao mới hoặc mức giá thấp mới, chúng ta có thể suy luận rằng ai đó biết (hoặc nghĩ rằng anh ta biết) một cái gì đó mới và anh ta sẵn sàng mạo hiểm tiền của mình vào đó.



Do đó, tôi tin rằng hành động giá là công cụ kỹ thuật quan trọng nhất. Giá hiện tại là giá trị thị trường không thể nghi ngờ của cổ phiếu hoặc chỉ số đó tại thời điểm đó trong một khoảng thời gian.

Xu hướng giá:


Xu hướng giá cho một khung thời gian nhất định có lẽ là thông tin quan trọng thứ hai sau giá hiện tại của một loại tài sản. Chỉ có ba loại Xu hướng: lên, xuống hoặc đi ngang.



Một Xu hướng về giá chỉ đơn giản là đo lường bên nào cấp bách hơn trong việc thực hiện giao dịch của họ. Là người mua trở nên ”hung hăng” hơn để đẩy giá cao hơn hay người bán đang trở nên hung hăng hơn để đẩy giá xuống thấp hơn?


Khi xác định Xu hướng về giá. Một nhà giao dịch phải kiểm tra khung thời gian chính xác: nói cách khác. Là khoảng thời gian tương tự như thời gian nắm giữ mong muốn của chúng ta. Đó có thể là khoảng thời gian dài hạn, ba đến năm năm? Hay đó có thể là một khoảng thời gian ngắn hơn, có thể là tuần hoặc tháng?



Các khung thời gian khác nhau có thể và thường không cho thấy các Xu hướng khác nhau về giá. Những gì có thể được coi là một sự điều chỉnh nhỏ trong Xu hướng tăng dài hạn có thể là một Xu hướng giảm mạnh trong khung thời gian ngắn hơn.

Khối lượng giao dịch


Khối lượng hay bao nhiêu đơn vị được giao dịch trong một đơn vị thời gian nhất định (chẳng hạn như một ngày, tuần hoặc giờ). Là một chỉ báo mang tính xác nhận. Một sự liên tưởng đơn giản có thể hình dung là một vòi nước. Nếu giá là tốc độ nước chảy ra khỏi vòi, thì thể tích của vòi chính là đại diện cho khối lượng giao dịch (Từ volume mang ý nghĩa là cả khối lượng và thể tích). Dòng nước từ vòi cứu hỏa có thể đẩy ngã một người. Tuy nhiên, nước chảy ra từ vòi trong vườn với tốc độ tương tự. Sẽ chỉ khiến ai đó ướt sũng mà thôi.



Trong biểu đồ dưới đây, chúng ta có thể quan sát mối quan hệ giữa giá cả, xu hướng và khối lượng.

Biểu đồ này cho thấy năm xu hướng tăng ngắn hạn và năm xu hướng giảm ngắn hạn. Lưu ý rằng khi giá giảm. Khối lượng tăng và khi giá tăng, khối lượng giảm. Điều này hoàn toàn ngược lại với những gì một nhà giao dịch muốn thấy trong một thị trường tăng, hoặc “bò”. Và trên đây điển hình của thị trường giảm, hoặc “gấu”.


Tại điểm A, giá đã tăng trong ngắn hạn lên $131,42. Thực tế đây là thông tin quan trọng nhất. Vì nó giúp xác định xu hướng ngắn hạn (điều quan trọng thứ hai) là tăng khi tại thời điểm đó đã tăng cao hơn. Tuy nhiên chúng ta cũng thấy xu hướng tăng đó đang nằm trong một xu hướng giảm dài hạn.


Như đã đề cập. Bởi vì xu hướng tăng ngắn hạn có khối lượng thấp hơn và giảm dần. Các xu hướng tăng ngắn hạn này là khá đáng ngờ. Trong tình huống này, hãy cân nhắc sử dụng các lệnh dừng lỗ chặt chẽ hơn bình thường để bảo vệ vốn và/hoặc lợi nhuận trước sự quay lại có thể của xu hướng giảm dài hạn. Chính xác là những gì đã xảy ra trong trường hợp này.

Nhận dạng mô hình


Con người là sinh vật của thói quen. Và cảm xúc và chúng ta có xu hướngphản ứng với các tình huống tương tự theo cùng một cách. Nhận dạng mô hình và cố gắng dự đoán hành vi trong tương lai của những người tham gia thị trường. Bằng cách xác định các mô hình về giá. Xu hướng và khối lượng.



Liệu rằng người mua hoặc người bán trở nên lo lắng. Và thiếu kiên nhẫn hơn để tham gia hay rút khỏi các giao dịch? Các công cụ nhận dạng mô hình bao gồm các mô hình đảo ngược như đỉnh, đáy đôi, vai đầu vai.  Và các mẫu tiếp tục như cờ, cờ đuôi nheo, nêm.



Biểu đồ dưới đây cung cấp một ví dụ về một mô hình đảo ngược xu hướngnhư vậy, mô hình đầu vai. Trong ví dụ này, tài sản này có xu hướng giảm mạnh, sau đó thay đổi hướng, “đảo ngược” xu hướng của nó từ trên xuống và sau đó tăng mạnh hơn, được coi là một tín hiệu tăng giá.

Công cụ theo xu hướng


Có hai công cụ theo xu hướng chính:

  1. Đường xu hướng là đường dốc được vẽ qua hai. Hoặc nhiều điểm thấp trong xu hướng tăng (hoặc điểm cao trong xu hướng giảm).
  2. Đường trung bình đơn giản. Là giá đóng cửa trung bình của một cổ phiếu hoặc chỉ số trong một khoảng thời gian nhất định. Các Đường trung bình được sử dụng phổ biến hơn cả là 20 ngày cho xu hướng ngắn hạn. 50 ngày cho xu hướng trung hạn và 200 ngày cho xu hướngdài hạn. Ví dụ: Đường trung bình động 20 ngày chỉ đơn giản là giá đóng cửa trung bình trong 20 ngày qua. Nó “di chuyển” theo thời gian bởi vì vào ngày hôm nay. Giá hôm nay được thêm vào mức trung bình và mức giá hiện tại là 21 ngày được giảm từ mức trung bình. Độ dốc của Đường trung bình động theo sau xu hướng của hành động giá. Xác nhận xu hướng và xác định khi nào một xu hướng thay đổi bằng cách thay đổi độ dốc của nó, theo xu hướng giá.

 

Những công cụ này có thể giúp bạn xác định và xác nhận xu hướng về giá. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng đây là những chỉ báo chậm. Xem biểu đồ sau phần tiếp theo để biết ví dụ.

Công cụ theo phạm vi giao dịch


Theo định nghĩa. Thị trường giới hạn trong phạm vi là thị trường dao động. Hoặc giao dịch lên xuống giữa mức thấp và mức cao được xác định rõ. Được gọi là các ngưỡng hỗ trợ và kháng cự.

Các công cụ đo lường dao động là công cụ chính cho các thị trường giới hạn phạm vi này. Ví dụ về các bộ dao động bao gồm các thuật toán ngẫu nhiên (hiển thị bên dưới). Chỉ số sức mạnh tương đối. Và Sự hội tụ/phân kỳtrung bình di chuyển (MACD).

Khi thị trường giới hạn trong phạm vi đã được xác định. Các bộ dao động có thể giúp xác định các bước ngoặt có thể xảy ra khi giá “bật khỏi” mức thấp hơn của phạm vi. Được gọi là mức “hỗ trợ” hoặc khi giá “bật” khỏi mức cao hơn của phạm vi. Được gọi là mức “kháng cự”.

Trong ví dụ trên. Chúng ta thấy các ví dụ về đường xu hướng. Đường trung bình động 50 ngày (màu đỏ). Và 200 ngày (màu xanh) và bộ dao động ngẫu nhiên:
  • Lưu ý rằng các đường xu hướng là một phần của chỉ báo giống như “kết nối các dấu chấm”, được vẽ bằng cách kết nối các mức Lower high trong một xu hướng giảm và các Higher low trong một xu hướngtăng.
  • Cũng thấy rằng các đường trung bình động. Đặc biệt là 200 ngày, chậm hơn so với xu hướng giá và không thay đổi độ dốc cho đến khi giá thay đổi theo xu hướng.
  • Cuối cùng, lưu ý rằng trong một xu hướng giảm hoặc xu hướng tăng mạnh. Bộ dao động ngẫu nhiên không dao động nhiều.

Đà của giá


Thị trường thay đổi nhanh như thế nào? Đây là câu hỏi mà các công cụ động lượng tìm cách trả lời. Động lượng giá, hoặc tốc độ thay đổi (ROC) và các bộ dao động được đề cập ở trên. là các công cụ chính để xác định động lượng thị trường. Chỉ số chuyển động định hướng trung bình (ADX). Do Welles Wilder phát triển là một công cụ khác tìm cách đo lường mức độ mạnh mẽ. Của một thị trường về xu hướng tăng hay giảm.


Bằng cách nhận ra khi đà thị trường đã mạnh và bắt đầu suy yếu. Các nhà giao dịch có thể nhận được một cảnh báo sớm rằng xu hướng có thể đang yếu đi. Tôi nhấn mạnh “có thể” bởi vì xu hướng không thực sự thay đổi. Cho đến khi nó thực sự xảy ra.

Đặc biệt


Tôi coi các công cụ đặc biệt là những công cụ. Không phù hợp với bất kỳ danh mục nào nêu trên. Và có thể cung cấp một loại hiểu biết khác về bức tranh phân tích kỹ thuật tổng thể. Một công cụ đặc biệt đáng chú ý sẽ là “Bollinger Bands®”. Có thể giúp người dùng xác định các động thái giá ngắn hạn. Các công cụ chuyên môn khác có thể bao gồm các tỷ lệ hồi quy Fibonacci và Lý thuyết sóng Elliott.

Hãy theo dõi


Trong các phần sau. Tôi sẽ đề cập đến một hoặc hai công cụ này cùng một lúc với các ví dụ cụ thể về cách sử dụng từng công cụ. Và các khả năng và giới hạn của nó. Tôi sẽ tập trung vào việc sử dụng các công cụ này. Để giúp xác định các giao dịch tiềm năng với rủi ro được xác định nhỏ hơn và xác suất lợi nhuận cao hơn.

Chúc may mắn và giao dịch tốt!

Đăng kí tham gia tại ĐÂY

Tham khảo cách giao dịch tại ĐÂY

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here